Parenting
Leave a Comment

Những cột mốc phát triển ngôn ngữ và khả năng nói của trẻ từ 3-36 tháng

Bước đầu tiên để giúp em bé của bạn có một kỹ năng giao tiếp mạnh mẽ đó là hiểu được các loại ngôn ngữ và sự phát triển ngôn ngữ của con theo từng giai đoạn.

Trong bài viết này, mình đưa ra các danh sách kiểm tra tham khảo để phụ huynh có thể đối chiếu với em bé của mình.

3-6 tháng

Giao tiếp tiếp nhận

  • Nhìn về phía có âm thanh
  • Nhìn vào mắt hoặc miệng người đang nói chuyện với mình
  • Thể hiện sự hứng thú với người nhiều hơn với các đồ vật
  • Duy trì được eye-contact

Giao tiếp biểu cảm

  • Thổi bong bóng
  • Ê a, mở miệng như đang muốn nói
  • Im lặng hoặc cười để phản hồi với tiếng cười hoặc là giọng nói
  • Ê a khi chơi một mình hoặc với người chăm sóc
  • Biết cười, khúc khích
  • Rên rỉ có mục đích
  • Bắt chước âm thanh hoặc nét mặt

Giao tiếp tiếp nhận (receptive communication) là những gì trẻ nghe và hiểu, trong khi giao tiếp biểu cảm (expressive communication) bao gồm những nỗ lực giao tiếp của con như là biểu cảm trên khuôn mặt, cử chỉ, âm thanh và cách nói chuyện. Hầu hết các bé đều thể hiện được những kỹ năng này khi được 6 tháng tuổi. Nếu bạn cảm thấy con có vấn đề bất thường về ngôn ngữ và khả năng nói, hãy tìm tới bác sĩ nhi khoa hoặc chuyên gia trị liệu về ngôn ngữ.

6-9 tháng

Giao tiếp tiếp nhận

  • Hiểu một số cử chỉ (ví dụ như đưa người về phía trước khi bạn giơ 2 tay ra bế)
  • Nhìn vào đồ vật và thành viên quen thuộc hoặc hình ảnh khi nghe thấy tên
  • Dừng hoặc quay lại khi nghe thấy tên mình
  • Luôn phản hồi với “không”
  • Quan tâm tới âm nhạc và ca hát
  • Tìm kiếm các đồ vật bị giấu đi
  • Tương tác với một số đồ vật mà không chỉ cho vào mồm hay đập nữa

Giao tiếp biểu cảm

  • Bắt đầu bắt chước bập bẹ khi người lớn mô phỏng (ma-ma-ma, ba-ba-ba) và lặp đi lặp lại
  • Bắt đầu có sự khác biệt trong âm thanh như về cao độ, lớn bé và nhịp điệu (vocal play)
  • Có thêm nhiều phụ âm được bập bẹ hơn (như p, b, m, n, t, d, i)
  • Sử dụng cử chỉ và âm thanh để phản kháng (lắc đầu hoặc vừa quay đi vừa rên rỉ)
  • Hét lên hoặc kêu lên để có được sự chú ý

Giao tiếp tiếp nhận (receptive communication) là những gì trẻ nghe và hiểu, trong khi giao tiếp biểu cảm (expressive communication) bao gồm những nỗ lực giao tiếp của con như là biểu cảm trên khuôn mặt, cử chỉ, âm thanh và cách nói chuyện. Hầu hết các bé đều thể hiện được những kỹ năng này khi được 9 tháng tuổi. Nếu bạn cảm thấy con có vấn đề bất thường về ngôn ngữ và khả năng nói, hãy tìm tới bác sĩ nhi khoa hoặc chuyên gia trị liệu về ngôn ngữ.

9-12 tháng

Giao tiếp tiếp nhận

  • Hiểu được các yêu cầu điều hướng đơn giản (như là “Đến đây”)
  • Hiểu được 25+ từ
  • Đưa đồ vật khi thấy cánh tay chìa ra
  • Làm được một số cử chỉ theo yêu cầu (vẫy bye bye, vỗ tay, hôn má…)
  • Thực hiện một số hành động theo thói quen khi được yêu cầu bằng lời nói (“Con cho tay vào đây nào” khi mặc áo chẳng hạn)
  • Phản hồi được một số câu hỏi đơn giản trong khi tìm kiếm như là “Bố đâu rồi” hoặc “Bóng đâu rồi?”
  • Tham gia và trở thành một phần các trò chơi có tính xã hội như “Ú òa”

Giao tiếp biểu cảm

  • Cố gắng bắt chước từ hoặc lặp lại âm thanh
  • Thường xuyên sử dụng những cử chỉ cố ý (lắc đầu cho “không”, chỉ, trỏ…)
  • Thường xuyên vẫy tạm biệt
  • Bắt đầu các trò chơi yêu thích với người lớn (hát, ú òa)
  • Nói “mama” hoặc “dada” một cách có ý nghĩa
  • Có thể nói 1-2 từ tự phát

Giao tiếp tiếp nhận (receptive communication) là những gì trẻ nghe và hiểu, trong khi giao tiếp biểu cảm (expressive communication) bao gồm những nỗ lực giao tiếp của con như là biểu cảm trên khuôn mặt, cử chỉ, âm thanh và cách nói chuyện. Hầu hết các bé đều thể hiện được những kỹ năng này khi được 12 tháng tuổi. Nếu bạn cảm thấy con có vấn đề bất thường về ngôn ngữ và khả năng nói, hãy tìm tới bác sĩ nhi khoa hoặc chuyên gia trị liệu về ngôn ngữ.

12-18 tháng

Giao tiếp tiếp nhận

  • Hiểu 50+ từ
  • Có thể làm theo những bước hướng dẫn đơn giản (“Đưa mẹ nào”, “Đi lấy bóng đi”)
  • Hiểu một số giới từ (trong, trên)
  • Chỉ được người quen hoặc đồ vật trong tranh
  • Khám phá chức năng chơi ở một số đồ chơi (sử dụng đồ chơi theo cách trẻ dự định)
  • Chơi nhập vai (tượng trưng) đơn giản (ví dụ như bắt chước bố mẹ khi bạn “cho bé ăn”)
  • Chỉ vào 6 phần cơ thể của mình hoặc búp bê/thú nhồi bông
  • Cầm món đồ chơi cho người lớn để được hỗ trợ (kỹ năng sớm của giải quyết vấn đề)

Giao tiếp biểu cảm

  • Nói được 10-50 từ (tối thiểu là 10 khi 18 tháng)
  • Bắt chước từ mới thường xuyên
  • Gọi tên 5-7 món đồ quen thuộc theo yêu cầu
  • Biết gật đầu
  • Tạo ra được 3 âm thanh của động vật
  • Sử dụng biệt ngữ (âm thanh/bập bẹ theo nhịp điệu giống lời nói của người lớn)
  • Tiếp tục sử dụng cử chỉ một cách khéo léo hơn (với cách phát âm, tạo ra âm thanh, từ vựng) để tạo ra hành vi của người khác (chỉ, trò, vỗ, thơm gió, suỵt, giơ ngón cái lên, high-5)

Giao tiếp tiếp nhận (receptive communication) là những gì trẻ nghe và hiểu, trong khi giao tiếp biểu cảm (expressive communication) bao gồm những nỗ lực giao tiếp của con như là biểu cảm trên khuôn mặt, cử chỉ, âm thanh và cách nói chuyện. Hầu hết các bé đều thể hiện được những kỹ năng này khi được 18 tháng tuổi. Nếu bạn cảm thấy con có vấn đề bất thường về ngôn ngữ và khả năng nói, hãy tìm tới bác sĩ nhi khoa hoặc chuyên gia trị liệu về ngôn ngữ.

18-24 tháng

Giao tiếp tiếp nhận

  • Hiểu 300+ từ
  • Làm theo được các hướng dẫn 2 hành động liên tục (“Con tới lấy bóng và bỏ vào rổ nhé”)
  • Đặt đồ chơi xuống theo yêu cầu
  • Chỉ vào 4 phần cơ thể kèm theo quần áo tương ứng
  • Hiểu ý nghĩa của các từ hành động (ăn, ngủ, nhảy, ném)
  • Hiểu yêu cầu “ngồi xuống nào”
  • Sử dụng 2 đồ chơi để chơi nhập vai cùng lúc (VD như đặt một nhân vật vào chiếc xe ô tô đồ chơi)
  • Cố gắng sử đồ chơi bị hỏng

Giao tiếp biểu cảm

  • Nói được 50-300 từ (tối thiểu 50 từ khi tới 24 tháng)
  • Sử dụng cụm 2 từ thường xuyên hơn (nhiều nước hơn, giày của mẹ, bye bye bố)
  • Bắt chước cụm 2-3 từ
  • Đề cập tới bản thân bằng tên
  • Sử dụng nhiều phụ âm khác nhau và nguyên âm một cách chính xác

Giao tiếp tiếp nhận (receptive communication) là những gì trẻ nghe và hiểu, trong khi giao tiếp biểu cảm (expressive communication) bao gồm những nỗ lực giao tiếp của con như là biểu cảm trên khuôn mặt, cử chỉ, âm thanh và cách nói chuyện. Hầu hết các bé đều thể hiện được những kỹ năng này khi được 24 tháng tuổi. Nếu bạn cảm thấy con có vấn đề bất thường về ngôn ngữ và khả năng nói, hãy tìm tới bác sĩ nhi khoa hoặc chuyên gia trị liệu về ngôn ngữ.

24-30 tháng

Giao tiếp tiếp nhận

  • Hầu hiết biết chơi đồ chơi đúng cách
  • Thực hiện nhiều hoạt động cùng lúc trong khi chơi (cho búp bê ăn, đặt vào giường ngủ)
  • Có thể xác định ít nhất 4 từ hành động trong tranh (VD: Ai đang chạy đây?)
  • Hiểu khái niệm của “một”
  • Hiểu khái niệm kích thước (lớn, nhỏ)
  • Hiểu nhiều từ chỉ vị trí hơn (trong, trên, dưới…)

Giao tiếp biểu cảm

  • Nói được cụm 3 từ thường xuyên
  • Sử dụng từ/động từ hành động
  • Thường thích sử dụng đại từ nhân xưng (con/của con thay vì dùng tên)
  • Chỉ được tên các loại màu sắc

Giao tiếp tiếp nhận (receptive communication) là những gì trẻ nghe và hiểu, trong khi giao tiếp biểu cảm (expressive communication) bao gồm những nỗ lực giao tiếp của con như là biểu cảm trên khuôn mặt, cử chỉ, âm thanh và cách nói chuyện. Hầu hết các bé đều thể hiện được những kỹ năng này khi được 30 tháng tuổi. Nếu bạn cảm thấy con có vấn đề bất thường về ngôn ngữ và khả năng nói, hãy tìm tới bác sĩ nhi khoa hoặc chuyên gia trị liệu về ngôn ngữ.

30-36 tháng

Giao tiếp tiếp nhận

  • Hiểu câu hỏi có/không (nhất quán trong câu trả lời)
  • Xác định các bộ phận của đồ vật (chỉ cho mẹ bánh của chiếc xe nào)
  • Hiểu các câu hỏi: ai, cái gì, ở đâu
  • Hiểu khái niệm “tất cả”
  • Hiểu nhiều từ chỉ vị trí hơn (trên, dưới, trong, ngoài, bên cạnh…)
  • Có thể xác định các đồ vật bởi chức năng của chúng (cái gì làm sạch răng mình nhỉ)
  • Chơi đóng vai nhưng không còn sự lặp lại mà khác nhau theo ngày (hôm nay đi bác sĩ, mai đi mua sắm…)

Giao tiếp biểu cảm

  • Nói được 250-1000 từ (ít nhất 250 từ khi được 36 tháng)
  • Sử dụng câu 4-5 từ với trật tự từ chính xác
  • Liên tục để cầp với bản thân và những người khác mà sử dụng đại từ nhân xưng (con, anh ấy, bạn ấy…)
  • Sử dụng được giới từ (trong, trên, bên ngoài, trên dưới, lên, xuống…)
  • Sử dụng phủ định (không ăn, không ngủ)
  • Sử dụng từ “đang” (đang ăn, đang nhảy)
  • Kỹ năng đối thoại khá tốt bao gồm hỏi và trả lời các câu hỏi đơn giản: ai, cái gì, ở đâu, như thế nào và tại sao
  • Nói về các đồ vật và sự kiện không ở thời hiện tại

Giao tiếp tiếp nhận (receptive communication) là những gì trẻ nghe và hiểu, trong khi giao tiếp biểu cảm (expressive communication) bao gồm những nỗ lực giao tiếp của con như là biểu cảm trên khuôn mặt, cử chỉ, âm thanh và cách nói chuyện. Hầu hết các bé đều thể hiện được những kỹ năng này khi được 36 tháng tuổi. Nếu bạn cảm thấy con có vấn đề bất thường về ngôn ngữ và khả năng nói, hãy tìm tới bác sĩ nhi khoa hoặc chuyên gia trị liệu về ngôn ngữ.

Tháng 8/2020, cuốn sách “Nghe con nói, Nói con nghe” của mình sẽ chính thức được phát hành trên toàn quốc. Cuốn sách là cẩm nang giao tiếp tích cực và hiệu quả cho mọi bậc phụ huynh, với những hướng dẫn cụ thể và sinh động trong lắng nghe và giao tiếp phù hợp với từng giai đoạn và độ tuổi khác nhau ở trẻ. Mong các bạn sẽ đón đọc!

This entry was posted in: Parenting

by

Linh Phan hiện đang sống và làm việc tại Nauy cùng chồng và 2 con trai. Linh có gần 15 năm học và làm việc trong lĩnh vực Truyền thông Tiếp thị. Sau khi sinh con trai đầu lòng, Linh quyết định theo đuổi khóa học Tâm lý học trẻ em trong 2 năm và hoàn thành chứng chỉ Parent Coach cuối năm 2019. Bên cạnh hoạt động chuyên môn liên quan tới Tư vấn Phụ huynh, Linh vẫn tiếp tục viết lách và chia sẻ các kinh nghiệm liên quan tới tâm lý học trẻ em, làm cha mẹ, viết lách và truyền thông tiếp thị.

Leave a Reply