Parenting
Leave a Comment

Đừng đánh em bé

Đừng đánh em bé.
Vì đánh em bé sẽ là nguyên nhân dẫn tới hành vi hung hăng của con. Khi bị đánh đòn, con sẽ đánh và cắn những đứa trẻ khác, trở thành kẻ bắt nạt khi chơi chung và có những phản ứng bạo lực khi trưởng thành.

Đừng đánh em bé.
Vì đánh em bé có thể là nguyên nhân dẫn tới sự nổi loạn, chống đối và tham gia vào nhiều hành vi nguy hiểm một cách bất cần, liều lĩnh ở tuổi trưởng thành.

Đừng đánh em bé.
Vì đánh em bé có thể khiến con tê liệt cảm giác, trở nên mẫn cảm với cơ thể của riêng con – cụ thể là các tín hiệu của đau, đói, no, mệt mỏi hay dùng thuốc quá liều.

Đừng đánh em bé.
Vì đánh em bé có thể là nguyên nhân gây ra những vấn đề liên quan tới khả năng tình dục, nhất là những em bé bị đánh vào mông có thể bị rối loạn chức năng tình dục và lạm dụng tình dục về sau này. 

Đừng đánh em bé. 
Vì đánh em bé có thể dẫn tới những rối loạn về cảm xúc và tình cảm, như là bị lo lắng, trầm cảm và lạm dụng chất cấm khi trưởng thành. 

Đừng đánh em bé.
Vì đánh em bé không dạy cho con kỹ năng giải quyết xung đột hữu ích, con gặp khó khăn trong giao tiếp và xây dựng các mối quan hệ khi lớn lên.

Đừng đánh em bé.
Vì đánh em bé có thể khiến con dối trá và lừa dối, con học cách tránh bị trừng phạt bằng cách nói dối và nhiều khả năng con sẽ tiếp tục có hành vi này khi con lớn lên. 

Đừng đánh em bé. 
Vì đánh em bé có thể khiến con sợ bố mẹ, khiến con không cảm thấy an toàn khi ở nhà và có nhiều khả năng tách rời khỏi bố mẹ hoặc đi khỏi nhà từ sớm cũng như từ chối chính bố mẹ của mình. 

Đừng đánh em bé.
Vì đánh em bé, là sự đau đớn về cả thể xác lẫn cảm xúc. Bố mẹ có muốn bị ai đó đánh mình và mình cảm thấy thoải mái không? Những trải nghiệm đau đớn lặp đi lặp lại thường xuyên sẽ dẫn tới những khả năng thèm trải nghiệm không lành mạnh về tình dục hoặc ma tuý.

Đừng đánh em bé. 
Vì hình phạt đó chưa bao giờ có hiệu quả dù nó có thể tạo ra sự tuân thủ một cách tạm thời. Đánh KHÔNG giúp con học hỏi, trở nên hợp tác hay phát triển theo những giá trị đạo đức của gia đình và xã hội. 
Đó là phương pháp kỷ luật kém hiệu quả nhất và vô nhân đạo. 

Lựa chọn vẫn là ở bố mẹ. Đôi khi chúng ta không kiểm soát được cảm xúc và hành vi của chính mình, nhiều bà mẹ nói mình đánh con xong cảm thấy hối hận rồi oà khóc theo con. Mình hiểu cảm giác này, dù chưa bao giờ đánh con trai. Nhưng nếu đã ý thức được, bố mẹ hãy cố gắng biến nó thành hành động và thay đổi.


Với trẻ em mà nói, một lần bị đánh đau có thể ám ảnh chúng cả đời. Và mình biết nhiều những người bạn cùng trang lứa với mình hay chồng mình, đều ít nhiều còn nhớ về những trận đòn thời thơ bé. Có thể chẳng nhớ vì sao mình bị đánh, nhưng sẽ nhớ mãi về cảm giác đau, căm phẫn, tổn thương và nhất là KHÔNG ĐƯỢC YÊU THƯƠNG khi bị đánh đòn. 

References

Afifi, T. O., Ford, D., Gershoff, E. T., Merrick, M., Grogan-Kaylor, A., Ports, K. A., MacMillan, H. L., Holden, G. W., Taylor, C. A., Lee, S. J., & Peters Bennett, R., (2017). Spanking and adult mental health impairment: The case for the designation of spanking as an adverse childhood experience. Child Abuse & Neglect, 71, 24-31

Durrant, J., & Ensom, R. (2012). Physical punishment of children: lessons from 20 years of research. CMAJ : Canadian Medical Association Journal, 184(12), 1373–1377. http://doi.org/10.1503/cmaj.101314

Gershoff, E. T., (2002). Corporal Punishment by Parents and Associated Child Behaviors and Experiences: A Meta-Analytic and Theoretical Review. Psychological Bulletin,128(4), 539–579. DOI: 10.1037//0033-2909.128.4.539

Gershoff, E. T. (2013), Spanking and Child Development: We Know Enough Now to Stop Hitting Our Children. Child Development Perspectives, 7, 133–137. DOI:10.1111/cdep.12038

Lansford, J. E., Wager, L. B., Bates, J. E., Pettit, G. S., & Dodge, K. A. (2012). Forms of Spanking and Children’s Externalizing Behaviors. Family Relations, 61(2), 224–236. http://doi.org/10.1111/j.1741-3729.2011.00700.xShonkoff, J. P., Garner, A. S., Committee on Psychosocial Aspects of Child and Family Health, Committee on Early Childhood, Adoption, and Dependent Care, Section on Developmental and Behavioral Pediatrics, (2012). The lifelong effects of early childhood adversity and toxic stress. Pediatrics, 129(1). Retrieved from: www.pediatrics.org/cgi/content/full/:e232305Trinh Vu Thi, Phan Duy Thanh và 303 người khác178 bình luận611 lượt chia sẻThíchBình luậnChia sẻ

This entry was posted in: Parenting

by

Linh Phan hiện đang sống và làm việc tại Nauy cùng chồng và 2 con trai. Linh có gần 15 năm học và làm việc trong lĩnh vực Truyền thông Tiếp thị. Sau khi sinh con trai đầu lòng, Linh quyết định theo đuổi khóa học Tâm lý học trẻ em trong 2 năm và hoàn thành chứng chỉ Parent Coach cuối năm 2019. Bên cạnh hoạt động chuyên môn liên quan tới Tư vấn Phụ huynh, Linh vẫn tiếp tục viết lách và chia sẻ các kinh nghiệm liên quan tới tâm lý học trẻ em, làm cha mẹ, viết lách và truyền thông tiếp thị.

Leave a Reply